Trang chủ‎ > ‎

Quản lý chính trị

Chính trị, theo tôi, là một loại nghề nghiệp đặc biệt, một loại hoạt động đặc biệt để tập hợp nhân dân hay cộng đồng, nhằm giải quyết các vấn đề xuất hiện trong quá trình sống và phát triển của nhân dân hay cộng đồng ấy. Trong một cộng đồng, mỗi cá nhân, tầng lớp hay giai cấp đều có những xu hướng hoặc đòi hỏi chính trị của mình với sự khác nhau nhất định. Nguồn gốc của chính trị chính là tính khuynh hướng về nhận thức của các thành viên và lực lượng trong xã hội - tính khuynh hướng phong phú và tự nhiên như tính phong phú và tự nhiên của cuộc sống. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng các khuynh hướng nhận thức chỉ trở thành chính trị khi nó phát triển đến một trình độ nhất, khi tư duy mang tính định hướng đã trở nên chuyên nghiệp ở mức độ nhất định.

Quản lý, nói một cách khái lược, là hoạt động của một cá nhân hay một tổ chức tác động lên một cộng đồng nhằm hướng hoạt động hoặc phối hợp các hoạt động của cộng đồng đó tới việc thực hiện một nhiệm vụ nhất định. Hoạt động quản lý xuất hiện cùng với sự xuất hiện của loài người, nhưng với sự ra đời của tư hữu và những tác nhân kích thích mang tính xã hội đối với sự phát triển, hoạt động quản lý cũng có một sự thay đổi vượt bậc. Trong một xã hội cào bằng một cách ngây thơ và đơn giản như xã hội công xã nguyên thuỷ, hoạt động quản lý chỉ có thể là tự phát và sơ khai. Kể từ khi xã hội bị phân chia thành các giai cấp, quản lý trở thành hoạt động quyết định sự phát triển của xã hội.

 Như vậy, chính trị là hoạt động có tính xã hội, còn quản lý là trạng thái hoạt động nhà nước của nhà chính trị. Khi là nhà chính trị thì anh phải tuân thủ hai hệ điều chỉnh, thứ nhất anh phải tuân thủ nền văn hoá nói chung, nền văn hoá chính trị nói riêng, của cộng đồng ấy; thứ hai, anh phải phấn đấu để được lựa chọn. Còn khi nhà chính trị được lựa chọn làm nhà quản lý xã hội, anh ta còn phải tuân thủ những bộ luật điều chỉnh hành vi của công chức và những nguyên tắc của văn hoá công chức.


 Chính trị
    Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam? Ý nghĩa của việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. Liên hệ Đảng bộ, Chi bộ của đồng chí? 
Bài làm

· Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam

Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử Cách mạng Việt Nam, nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng. Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam gắn liền với vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - người trực tiếp chuẩn bị về mặt tổ chức, chính trị, tư tưởng cho sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam, đồng thời chủ trì hội nghị thành lập Đảng. 

Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, nhiều nhà yêu nước đương thời tiếp tục con đường cứu nước theo lối cũ, thì đồng chí Nguyễn Ái Quốc, bằng thiên tài trí tuệ và nhãn quan chính trị sắc bén đã ra đi t́m đường cứu nước theo phương hướng mới. 

Nhận thức được bản chất của chủ nghĩa Đế quốc và sức mạnh đoàn kết của nhân dân các thuộc địa là cơ sở đầu tiên để Nguyễn Ái Quốc lựa chọn đúng đắn con đường cứu nước. Từ việc tìm hiểu các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, Nguyễn Ái Quốc nhận ra chân lý: chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Tháng 7/1920 – Nguyễn Ái Quốc đọc được bản sơ thảo “ những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin và tìm thấy lời giải cho con đường giải phóng dân tộc Việt Nam và về mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa với cách mạng thế giới. Tháng 12/1920 Nguyễn Ái Quốc gia nhập Quốc tế cộng sản và tham gia Đảng cộng sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động của Nguyễn Ái Quốc: từ người yêu nước trở thành người cộng sản và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” 

Nguyễn Ái Quốc cùng các nhà cách mạng yêu nước tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc tham gia viết sách, báo nêu cao tinh thần đấu tranh, lên án mạnh mẽ chế độ cai trị hà khắc tàn bạo của thực dân Pháp, vạch trần tội phản dân, hại nước của bọn vua quan phong kiến phản bội tổ quốc, chống lại đồng bào. Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc chống lại thực dân Pháp xâm lược.

Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên. Mở lớp huấn luyện cán bộ của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên mà Nguyễn Ái Quốc là người trực tiếp tham gia giảng dạy. Cùng với việc đào tạo cán bộ, Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức xuất bản nhiều đầu báo, Bản án chế độ thực dân Pháp(1925), Đường cách mệnh(1927). Nguyễn Ái Quốc có vai trò lớn trong sự thành lập 3 tổ chức cộng sản : Đông Dương cộng sản Đảng, An Nam cộng sản Đảng, Đông Dương cộng sản liên đoàn. Nhưng 3 tổ chức này lại hoạt động riêng rẽ, nhiều khi công kích nhau nhằm tăng sức ảnh hưởng trong nhân dân. Chính vì thế, việc khắc phục sự chia rẽ, phân tán giữa các tổ chức cộng sản là một yêu cầu đặt ra cấp thiết của cách mạng Việt Nam, là nhiệm vụ cấp bách trước mắt của những người cộng sản Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã chủ động triệu tập hội nghị thành lập Đảng (2/1930).Giữ vai trò là người đại diện cho Quốc tế cộng sản và chủ trì hội nghị.

Có thể nói Nguyễn Ái Quốc giữ một vai trò vô cùng to lớn đối với việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. 

· Ý nghĩa của việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam 

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã mở ra thời kì mới cho cách mạng Việt Nam: thời kì đấu tranh giành độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định được những nội dung cơ bản nhất của con đường cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh ra đời đã đáp ứng được những nhu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng Việt Nam từ đây có đường lối cách mạng đúng đắn và tổ chức cách mạng tiên phong lãnh đạo, chấm dứt sự khủng hoảng và bế tắc về con đường cứu nước: “Từ cuối thế kỷ XIX đến những thập niên đầu thế kỷ XX, nhân dân ta liên tiếp nổi dậy chống chủ nghĩa thực dân. Tiếp nối các phong trào Văn Thân và Cần Vương, phong trào yêu nước ba mươi năm đầu thế kỷ XX diễn ra vô cùng anh dũng, từ khởi nghĩa Yên Thế và các phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân đến khởi nghĩa Yên Bái… nhưng không thành công vì thiếu một đường lối đúng”. “Năm 1930, kế thừa “Hội Việt Nam cách mạng thanh niên” và các tổ chức cộng sản tiền thân, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu bước ngoặt của cách mạng Việt Nam”. 

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, là sự kiện gắn liền với tên tuổi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Điều đó nói lên quy luật ra đời của Đảng và là kết quả của quá trình chuẩn bị công phu, khoa học của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trên cả ba mặt tư tưởng, chính trị và tổ chức. Từ đó cũng chứng tỏ giai cấp công nhân mà đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam đã trưởng thành và có đủ những yếu tố cơ bản nhất để khẳng định sự đảm nhiệm vai trò lãnh đạo đối với cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đánh dấu bước phát triển vế chất của cách mạng Việt Nam. 

 Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập khẳng định dứt khoát con đường đi lên của dân tộc Việt Nam từ 1930 là con đường cách mạng vô sản. Đó là sự lựa chọn của chính nhân dân Việt Nam, chính lịch sử dân tộc Việt Nam trong quá trình tìm con đường giải phóng dân tộc.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng tỏ rằng: Giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng. Đó cũng là cột mốc lớn đánh dấu bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài mấy chục năm đã được giải quyết. Từ đây, cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đảng Mác- Lênin chân chính với đường lối cách mạng khoa học và sáng tạo là cơ sở lý luận vững chắc đảm bảo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, đáp ứng đầy đủ yêu cầu của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc phát triển của đất nước.

Sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh được thông qua ở Hội nghị thành lập Đảng, từ năm 1930 cách mạng Việt Nam có được đường lối chính trị toàn diện đề ra mục tiêu và phương pháp đấu tranh thích hợp, giải quyết triệt để những mâu thuẫn cơ bản của xã hội, đồng thời có được tổ chức Đảng cách mạng để lãnh đạo và tổ chức phong trào cách mạng. Sự ra đời của Đảng đã tạo những tiền đề và điều kiện để đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trên con đường giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng đất nước được, mở đầu bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Đảng ra đời làm cho cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới. Từ đây giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam tham gia một cách tự giác vào sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân thế giới.

Sự đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã được khẳng định bởi quá trình khảo nghiệm của lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước quá độ đi lên CNXH của dân tộc ta từ khi Đảng ra đời và đến nay vẫn là ngọn cờ dẫn dắt nhân dân ta trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu "dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh". 

· Liên hệ:

1. Thực trạng:

          Trong những năm qua, công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức trong Đảng bộ, Chi bộ xã …….đã thường xuyên được coi trọng. Cấp ủy đã quán triệt, thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, quy định, hướng dẫn của Trung ương về công tác xây dựng Đảng. Trên cơ sở đó, xây dựng chương trình hành động của cả nhiệm kỳ, trong đó xác định rõ giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm. Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động lãnh đạo. Hệ thống các quy chế, quy định được xây dựng bổ sung, phân rõ trách nhiệm, quyền hạn; giữ vững nền nếp, chế độ sinh hoạt; coi trọng đổi mới phương pháp, phong cách lãnh đạo; thường xuyên củng cố, kiện toàn, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực lãnh đạo cho cấp ủy viên. Công tác quản lý, giáo dục và phát triển đảng viên được thực hiện có nền nếp; số lượng đảng viên kết nạp hằng năm đều tăng về số lượng và bảo đảm chất lượng.

Bên cạnh những ưu điểm vẫn còn những hạn chế như: Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, tự phê bình và phê bình trong cấp ủy, đảng viên chưa đạt yêu cầu đề ra, còn e dè, nể nang. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng còn nhiều hạn chế, thiếu sót; tính định hướng, tính chiến đấu, tính thuyết phục và hiệu quả chưa cao; thiếu chủ động. Công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống còn chung chung, kém hiệu quả. Công tác nghiên cứu lý luận còn chưa theo kịp yêu cầu của công cuộc đổi mới. 
2. Giải pháp:

- Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, coi đó là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên hàng ngày. Mỗi cán bộ lãnh đạo, đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, học tập và làm theo gương Bác, là tấm gương về phẩm chất đạo đức, lối sống. Cán bộ cấp trên phải gương mẫu trước cán bộ cấp dưới, đảng viên và nhân dân... 

- Tổ chức học tập, quán triệt các chủ trương, nghị quyết của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước đến cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã kịp thời, chất lượng. Các cấp uỷ chi bộ, có phương pháp tổ chức triển khai thực hiện sáng tạo, phù hợp với trình độ, nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân. 

- Định kỳ tổ chức lấy ý kiến nhân dân về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, qua đó góp phần phát hiện và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, đảng viên... Đặc biệt, trong công tác xây dựng Đảng hiện nay cần nhận rõ và quyết tâm khắc phục những hạn chế, tồn tại đã được chỉ ra sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) 
        - Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thực hành tiết kiệm. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành. Có cơ chế loại bỏ, bãi miễn những cán bộ, công chức suy thoái, biến chất, không hoàn thành nhiệm vụ. 


 Quản lý
    Vận dụng tư tưởng Hồ chí Minh về giáo dục và đào tạo trong quản lý trường học.

       Bài làm

        Nhằm khuyến khích, động viên đội ngũ nhân lực đem tài năng, sức lực, trí tuệ cống hiến cho giáo dục, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Ngày 11/6/1948, trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Thi đua khen thưởng là động lực phát triển và là biện pháp quan trọng để xây dựng con người mới. Thi đua yêu nước phải được tiến hành thường xuyên, liên tục hàng ngày".

       Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật để chỉ đạo về việc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng và nhân điển hình tiên tiến. Quán triệt các văn bản nêu trên, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, ngành Giáo dục - đào tạo, những năm qua công tác thi đua khen thưởng của đơn vị tôi công tác đã có những chuyển biến tích cực, ngày càng đi vào nề nếp, tạo điều kiện thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được Đảng và Nhà nước giao.

       Bên cạnh mặt tích cực đạt được, trên thực tế công tác thi đua khen thưởng vẫn còn bộc lộ không ít tồn tại, hạn chế và chưa thật sự trở thành động lực mạnh mẽ cổ vũ, động viên cán bộ, công chức, viên chức làm việc và cống hiến. Đơn vị còn chưa quan tâm đúng mức công tác thi đua khen thưởng, còn mang tính hình thức; công tác tuyên truyền, nhân điển hình tiên tiến, việc bình xét thi đua khen thưởng chưa bám sát quy định pháp luật về sáng kiến, quy trình thủ tục, hồ sơ khen thưởng chưa đúng quy định, còn có hiện tượng bình xét luân phiên nhau,…

       Ðể đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua khen thưởng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong đơn vị, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp chủ yếu sau:

           * Một là, tiếp tục đổi mới nội dung và hình thức công tác thi đua khen thưởng bảo đảm phù hợp và sát thực tiễn, coi đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của đơn vị:

      + Các phong trào thi đua của Bộ, ngành GD-ĐT, của đơn vị phải có chủ đề, khẩu hiệu hành động rõ ràng; nội dung thi đua và chỉ tiêu phấn đấu phải cụ thể, thiết thực, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện đặc thù của đơn vị.

      + Việc đăng ký thi đua và tổ chức cho cán bộ, công chức, viên chức đăng ký thi đua phải được làm thường xuyên ngay sau khi Bộ, ngành GD-ĐT phát động phong trào thi đua của năm.              

      +Ngay từ đầu năm, Hội đồng thi đua khen thưởng cần xây dựng nội dung thi đua và khẩu hiệu hành động và phát động phong trào thi đua để cán bộ, công chức, viên chức hưởng ứng và lấy đó làm căn cứ xây dựng nội dung thi đua.

      + Mỗi phong trào thi đua cần tạo ra được sự đột phá mới, nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, xử lý dứt điểm bức xúc; tập trung hoàn thành công tác trọng tâm, trọng điểm của đơn vị.

       * Hai là, chú trọng công tác phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng cá nhân, tập thể điển hình tiên tiến:

      + Đây cần được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong việc đổi mới phương pháp tổ chức phong trào thi đua. Cần xây dựng tiêu chí xác định gương điển hình tiên tiến để áp dụng trong đơn vị.

       +Tuỳ thuộc tính chất công việc được giao, thực hiện bình xét, chấm điểm thi đua định kỳ hàng tháng, quý, năm đối với cán bộ, công chức, viên chức; báo cáo Thường trực Hội đồng thi đua khen thưởng những gương người tốt, việc tốt để tổng hợp, lựa chọn và tổ chức tuyên truyền, nêu gương tại các cuộc họp để tạo sự lan tỏa tích cực trong đơn vị.

       + Tổ chức cho lãnh đạo và cán bộ làm công tác TĐKT ở đơn vị tham quan, học tập kinh nghiệm, cách làm đạt hiệu quả, đạt thành tích trong thực hiện phong trào thi đua của các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến.

     *Ba là, đề cao vai trò chỉ đạo, điều hành đối với công tác TĐKT:

     + Cần nêu cao trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền ở đơn vị, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác TĐKT. Tiếp tục kiện toàn Hội đồng TĐKT và nhân lực làm công tác TĐKT ở đơn vị. Cán bộ làm công tác TĐKT, ngoài nắm vững các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ về TĐKT, cần có lòng nhiệt tình với công việc và phải có năng lực tổ chức phong trào thi đua để hướng mọi người trong tập thể phấn đấu đạt mục tiêu đề ra.

       * Bốn là, công tác TĐKT phải bảo đảm công bằng, kịp thời, đánh giá đúng mức sự nỗ lực, thành tích đạt được.

     + Việc khen thưởng không nhất thiết phải đến kỳ sơ kết, tổng kết phong trào mới đưa bình xét mà cần tiến hành thường xuyên, vì thực chất của việc khen thưởng có vai trò chủ yếu là động viên tinh thần, làm cho người được khen thưởng phấn khởi, khích lệ và do đó hiệu quả công việc đương nhiên sẽ tốt hơn. Cũng cần quan tâm, động viên kịp thời những cá nhân có tinh thần sáng tạo, vượt khó để hoàn thành nhiệm vụ.

      + Việc khen thưởng đem lại giá trị tinh thần vì đó là sự tôn vinh. Mà đã là tôn vinh thì phải có sự thừa nhận khách quan. Nếu không công bằng, khách quan thì TĐKT sẽ phản tác dụng. Do vậy, việc khen thưởng phải đảm bảo công bằng: đúng người, đúng thành tích, đúng mục đích trọng tâm của thi đua để kịp thời động viên người tốt, tổ chức tốt nỗ lực hơn nữa, đồng thời có tác dụng khuyến khích người chưa tốt, người chưa tốt cố gắng phấn đấu hơn, tránh tình trạng cào bằng, hoặc năm trước người đó được khen thì năm nay nhường người khác, làm triệt tiêu sự nỗ lực phấn đấu liên tục của người đó.

        * Năm là, tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc cán bộ, giáo viên thực hiện công tác TĐKT:

     + Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác TĐKT; kịp thời phát hiện các vấn đề khó khăn, vướng mắc để có biện pháp khắc phục, chấn chỉnh nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác TĐKT; phê bình những cá nhân thực hiện phong trào qua loa, hời hợt, đối phó; phát hiện, ngăn chặn tiêu cực trong công tác TĐKT, tránh tình trạng khen thưởng tràn lan, không thực chất. 

Liên hệ:

    Vận dụng tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh về công tác giáo dục, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, ngành Giáo dục - đào tạo thì trường tôi đã bồi dưỡng đào tạo được một đội ngũ trí thức có đức, có tài, phục vụ cho sự nghiệp giáo dục. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu ấy, tình trạng giáo dục thiên về "dạy chữ" lơi lỏng về "dạy người" vẫn còn phổ biến. Chất lượng đào tạo của trường chưa cao, việc "dạy chay", "học chay",.. vẫn còn xảy ra. Nhiều giáo viên dạy không sâu sát chương trình, còn hời hợt,… Từ những thực trạng đó, nhà trường nơi tôi đang công tác đã có một số giải pháp về giáo dục tư tưởng, đạo đức, tổ chức, hành chính,…để nâng cao chất lượng giáo dục. 

1. Trước hết phải đổi mới công tác quản lý, đổi mới đồng bộ từ cán bộ quản lý đến từng giáo viên trong nhà trường. Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng đổi mới về cách tổ chức và quản lý chỉ đạo; giáo viên đổi mới cách soạn giảng, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới về phương pháp giáo dục học sinh… 

2. Hiệu trưởng nhà trường phải lập đầy đủ kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn thật chi tiết và khả thi. Người hiệu trưởng phải có cái Tâm và cái Tầm để quản lý chỉ đạo các hoạt động trong nhà trường một cách có hiệu quả. Thực hiện tốt công tác phân cấp quản lý, Sắp xếp và phân công cán bộ giáo viên, công nhân viên đúng người, đúng việc phù hợp với khả năng từng người để đem lại hiệu quả công tác, giúp cán bộ giáo viên công nhân viên trong nhà trường hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Hiệu trưởng phải gương mẫu và đi đầu trong mọi công tác, phải thật sự là con chim đầu đàn trong nhà trường. 

3. Tổ chức cho cán bộ giáo viên – công nhân viên học tập quán triệt đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục, các Quyết định, Thông tư, Điều lệ …của trường Tiểu học. Tăng cường nội dung công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống trong nhà trường cho cán bộ, giáo viên, học sinh vào trong kế hoạch giảng dạy của nhà trường, coi đây là một trong những nhiệm vụ then chốt của công tác giáo dục. 

4. Tổ chức và thực hiện tốt quy chế dân chủ, chế độ công khai trong nhà trường, đáp ứng đầy đủ mọi quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định, cho cán bộ giáo viên công nhân viên, tạo sự đoàn kết nhất trí cao trong tập thể nhà trường, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đã đề ra. 

5. Thực hiện cải cách hành chính, đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và giảng dạy, tổ chức soạn giảng bằng giáo án điện tử để nâng cao chất lượng dạy học. Đẩy mạnh công tác kiểm tra nội bộ trường học, thường xuyên tổ chức kiểm tra chuyên đề, kiểm tra toàn diện, kiểm tra đột xuất …Tăng cường công tác kiểm tra đột xuất để đánh giá thực chất các hoạt động trong nhà trường và tạo được nề nếp trong công tác dạy và học. 

6. Vận động cán bộ giáo viên - Công nhân viên tham gia học tập về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao trình độ chuẩn và trên chuẩn, các loại hình giáo viên, các lớp về quản lý giáo dục, Anh văn, Tin học... 

7. Đổi mới công tác thi đua khen thưởng, tổ chức khen thưởng kịp thời những nhân tố tích cực, phê bình những cá nhân tiêu cực 

8. Tổ chức và mở rộng lớp 2 buổi/ ngày, phân loại trình độ học sinh để giảng dạy. Thường xuyên tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu để nâng cao chất lượng đại trà và mũi nhọn. Thường xuyên tổ chức thi học sinh giỏi cấp trường qua các hình thức đố vui để học, rung chuông vàng, thi đọc đúng viết đẹp, thi kể chuyện.…để khích lệ tinh thần học tập của học sinh. 

9. Mua sắm đầy đủ trang thiết bị để phục vụ cho công tác dạy học và xây dựng thư viện chuẩn. Nhà trường xây dựng và trồng nhiều bồn hoa, thảm cỏ, cây bóng mát, cây cảnh … tạo quang cảnh nhà trường khang trang sạch đẹp, tạo điều kiện tốt cho các em học sinh ham thích đến trường.






Comments