Những kỷ niệm về Bác Hồ

BÁC HỒ VÀO THĂM BỘ ĐỘI GIỚI TUYẾN 

    Đúng 14 giờ ngày 15-6-1957, xe của Bác đến Sư đoàn 325. Cùng đi có đồng chí Nguyễn Chí Thanh, đồng chí Trần Quốc Hoàn... Đồng chí Hoàng Văn Thái, Chính ủy kiêm Sư đoàn trưởng hô to: “Chúc Bác Hồ khỏe! Bác Hồ muôn năm!”. Cả đơn vị đang đứng thẳng hàng hai bên đường đón Bác, hô theo: “Bác Hồ muôn năm, muôn năm!”. Bác đưa tay vẫy chào, trìu mến. 

Bác nghỉ ngơi một lát, rồi làm việc với sư đoàn. Làm việc xong, đồng chí Thái mời Bác và đoàn đi tắm biển. Từ nhà ra bãi tắm khoảng hơn 200m. Bác đi bộ thoăn thoắt trên bãi cát mịn. Đến nơi tắm, có cán bộ, chiến sĩ bảo vệ xuống biển trước, bơi vòng ngoài. Bác cởi quần dài, mặc quần đùi. Bác nói vui: “Ở đây, chúng ta đều là làng đực, hãy tắm cho thoải mái!”. Mọi người đều cười vui. 

Bác có bộ ngực đẹp, toát lên vẻ khỏe mạnh của một người thường xuyên rèn luyện thể lực. Bác tắm khoảng 30 phút. Cán bộ bảo vệ mời Bác đến tắm nước ngọt. Bác nói: “Đã lâu, Bác chưa tắm biển, nay vào giới tuyến thăm và tắm biển là một kỷ niệm đối với Bác. Bác không tắm nước ngọt”. Thế là không có ai tắm lại nước ngọt. Bác lấy khăn lau và mặc quần áo. Bác mặc bộ quần áo lụa bà ba màu nâu. 

Từ nơi tắm về, các đồng chí của sư đoàn đi phía sau, đồng chí Nguyễn Chí Thanh và đồng chí Trần Quốc Hoàn đi phía trước. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh mặc quần đùi, áo vắt vai để lưng trần. Bác nhìn phía sau lưng đồng chí Thanh và nói: “Lưng của chú Thanh đúng như lưng của nông dân hè”. Đồng chí Hoàn nói: “Thưa Bác, anh Thanh là từ nông dân mà ra”. Mọi người đều cười vui vẻ. 

Bác ngồi hóng mát trên hiên nhà nghỉ. Bác hỏi thăm quê quán những đồng chí ngồi xung quanh. Mấy cô văn công và cháu nhỏ xúm đến, ngồi sát bên Bác. Bác vuốt ve các cháu như một người ông thật sự. Đến giờ, đồng chí Thái mời Bác vào ăn cơm chiều. Bác ăn rất ngon miệng. Bác khen những món đặc sản ở Huế và Đồng Hới, như cá, mực, mắm nêm, cà, rau chuối chát, mắm tôm chua ăn với thịt lợn luộc, canh mướp đắng nấu với tôm bóc trần. 

Đến 19 giờ 30 phút, Bác gặp cán bộ, chiến sĩ cơ quan sư đoàn và đơn vị trực thuộc. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh tuyên bố lý do, rồi nói: “Hôm nay, Bác đến thăm vui chung với tất cả mọi người. Ai có thơ, ca, hò, vè thì lên hát vui với Bác. Bác nghe rồi sẽ có thưởng...”. Cơ quan đã chuẩn bị bánh kẹo và dưa hấu. Đồng chí Thanh đem ra một mâm đầy bánh kẹo phân phát cho các cháu. Bác mặc bộ đồ nâu. Bác không ngồi ghế mà ngồi trên nền xi măng. Bác vẫy các cháu bé đến ngồi cạnh Bác. Một cháu gái bé nhất được ngồi vào lòng Bác và được Bác cho nhiều kẹo. Các cháu khác cũng được Bác cho kẹo. Bác bảo: “Có chú nào ra hát ít bài cho vui”. Một số anh chị em lên hát, hò vè, ngâm thơ đều được Bác trực tiếp thưởng cho từ hai đến bốn cái kẹo. Một đồng chí ngâm bài: “Đêm nay Bác không ngủ”. Vừa ngâm xong, Bác nói: “Bác không ngủ nì!” và cho hai cái kẹo. Có đồng chí hò theo điệu “mái nhì Huế”: 

“Nhà không có cột thì nhà xiêu 

Cây không có gốc thì cây đổ, 

Nay ta đã có Cụ Hồ 

Dựng xây đất nước cơ đồ Việt Nam”. 

Bác nói: “Giọng hò hay, Bác thưởng 2 kẹo. Nhưng nội dung chỉ được 2 câu trên, còn hai câu sau thì Bác phạt. Đáng lẽ được 4 kẹo, nhưng Bác trừ 2 còn 2”. Tất cả vỗ tay reo vui và rất xúc động vì Bác không nghĩ cho riêng mình. 

Kết thúc buổi liên hoan, Bác nhắc mọi người công tác giỏi, không tự phụ, mỗi người trồng ba cây dương liễu để phủ xanh cái đồi trọc này. 

Bộ Chính trị có điện khẩn đề nghị Bác ra ngay Hà Nội. Bác bảo đồng chí Sư đoàn trưởng: “Bác muốn gặp cán bộ, chiến sĩ cả sư đoàn trước khi Bác về”. Sư đoàn báo các đơn vị sẽ có mặt tại thị xã Đồng Hới trước 4 giờ sáng ngày 16-6-1957. 

Đúng giờ, Bác đến. Bác vẫy tay chào bộ đội và nói về tình hình nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân đội và trách nhiệm của cán bộ chiến sĩ. Bác đặc biệt xúc động khi nhắc tới cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào miền Nam đang diễn ra sôi sục ở bên kia sông Bến Hải, đòi địch phải nghiêm chỉnh thi hành hiệp nghị Giơ-ne-vơ, chống khủng bố, đàn áp những người kháng chiến cũ, đòi tự do dân chủ, cải thiện đời sống... Bác căn dặn sư đoàn phải nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu thật tốt. Phải ra sức học tập chính trị, quân sự, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân. Phải kiên quyết làm tròn nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc và làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. 

Cuối cùng Bác nói: “Vì bận công việc, Bác phải ra ngay Hà Nội. Bác ủy nhiệm đồng chí Nguyễn Chí Thanh thay mặt Bác nói chuyện tiếp với các chú. Bác chúc các chú khỏe...”. 

Đồng chí Hoàng Văn Thái hô to: “Chúng cháu xin hứa với Bác quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ”. Cả sư đoàn hô to: “Xin hứa, xin hứa, xin hứa!”. Bác ngắm nhìn toàn đội hình sư đoàn ân cần trìu mến và vẫy tay chào tạm biệt. 

Theo Thiếu tướng NGUYỄN CÔNG TRANG

NGƯỜI MANG HỌ HỒ 6 LẦN GẶP BÁC 
   Anh hùng Vai, một tay mân mê từng bức ảnh chụp chung cùng Bác Hồ, tay kia tháo cặp kính lau đôi mắt đang rưng lệ , xúc động nói: Tất cả đồng bào ở A Lưới đều mang họ Hồ của Bác. Cứ đến dịp 19/5, cả núi rừng lại hân hoan mở hội, tỏ lòng biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người anh hùng giải phóng dân tộc. 
  Tên thật của ông là Lê Vai, nhưng vì ơn Bác đã đổi thành Hồ Đức Vai. Năm nay 65 tuổi, mái tóc đã bạc trắng, nước da cháy sạm vì nắng gió, nhưng anh hùng Vai vẫn còn xông xáo như ngày nào. Giọng của ông trầm lắng và tiếng cười sảng khoái khi kể về những câu chuyện đánh địch của quân ta. Ở tuổi 22 anh Vai đã trở thành anh Bộ đội Cụ Hồ . Ngày ấy, A Lưới được xem là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng của cả quân ta và địch . Giặc Mỹ càn quét ngày đêm, nhưng đồng bào dân tộc Tà ôi, Ka Tu, Pa Cô... không nhụt ý chí, một mực tin yêu Bác Hồ và một lòng theo Đảng. 

Năm 1965, cả chiến trường miền Nam có 63 người được bầu danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thì ông Vai là một trong năm người tiêu biểu nhất được chọn đi báo cáo, giao lưu với đồng bào miền Bắc và được gặp Bác Hồ. Ông được nhiều địa phương, đơn vị mời đi nói chuyện và mỗi lần báo cáo cả hội trường đều khóc. 6 lần được gặp Bác, mỗi lần gặp trong lòng người anh hùng lại rưng lệ. Còn nhớ, lần đầu trước khi gặp Bác ai cũng run, mấy người bàn nhau phải sắp hàng và đứng nghiêm như chào cờ, nhưng khi thấy Bác tất cả 5 anh chị em vui sướng khóc òa ôm chầm lấy Người và mắt Bác cũng rớm lệ. Bác Hồ rất quan tâm tới Anh hùng Vai, dân tộc Pa Cô. Bác thường căn dặn: cháu ở lại ngoài này để học chữ, bởi người làm cách mạng thường xuyên truyền đạt cho nhân dân nên cần phải giỏi. Anh hùng Vai đã tham gia học ở Trường lục quân, đào tạo chính trị viên tiểu đoàn được một năm thì xin Tổng cục chính trị cho nghỉ học quay lại chiến trường. Bác Hồ cũng đồng ý và mời anh hùng Vai dự bữa cơm thân mật. Trước khi chia tay, Bác căn dặn: cháu đã trở thành cán bộ vào trong đó phải gương mẫu, điều gì trái dù nhỏ nhất cũng phải tránh và cái gì là lẽ phải thì quyết tâm làm bằng được. 

Trở lại chiến trường, anh hùng Vai tham gia ở nhiều đơn vị và sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng tiếp tục hoạt động xây dựng hệ thống chính trị cơ sở. Ông Vai đã đảm nhận nhiều chức vụ trọng trách như Bí thư Đảng ủy quân sự, Phó chủ tịch huyện, Chủ tịch Mặt trận tổ quốc huyện A Lưới, đại biểu Quốc hội khóa VI... Dù ở cương vị nào ông Vai cũng tâm huyết với công vỉệc, góp phần giúp cho đồng bào A Lưới có cuộc sống tốt đẹp hơn. Năm 2001, ông Vai về hưu và hiện đảm nhận chức Chủ tịch hội Bảo trợ xã hội huyện. Mặc dù tuổi già sức yếu nhưng mọi người vẫn thấy bóng anh hùng Vai với chiếc xe đạp cà tàng đi khắp các cơ quan, đơn vị, cá nhân vận động ủng hộ quỹ "Vì nạn nhân chất độc da cam, người tàn tật". Đến nay, bằng nhiều nguồn đóng góp, Hội đã xây dựng được quỹ hàng trăm triệu đồng giúp đỡ trẻ tàn tật, người nhiễm chất độc da cam/diôxin. Ông Vai cho rằng: "Đó chính là món quà dâng Bác Hồ nhân kỷ niệm lần thứ 115 Ngày sinh của Người”./. 
ĐCSVN online

NGÔI NHÀ CỦA BÁC Ở HUẾ
   Ở Huế có tới 12 di tích liên quan đến tuổi thơ của Bác Hồ như làng Dương Nỗ, Trường Quốc Học, đường Đông Ba .v.v… Trong đó địa chỉ gây xúc động nhất là Ngôi nhà Thành Nội 

“Dãy nhà gian ngói, bếp tranh”… 

Ngôi nhà Thành Nội là nơi Bác sống với cha mẹ trong 5 năm trời, sau này mang số 112 đường Mai Thúc Loan - đầu thế kỷ XX gọi là đường Đông Ba. Năm 1895, cậu bé Nguyễn Sinh Cung vừa tròn 5 tuổi đã cùng anh Nguyễn Sinh Khiêm theo mẹ vào Huế. Bà Hoàng Thị Loan mới 25 tuổi đã gánh con vượt đèo Ngang vào nuôi chồng “dùi mài kinh sử”. 

Thời gian đầu, ông Sắc cùng vợ con ở nhờ trong một ngôi nhà trước Viện Đô Sát (nay là Trường PTCS Thuận Thành), sau đó mới thuê được căn nhà 112 Mai Thúc Loan và cải tạo thành nơi cư trú của gia đình trong 5 năm (1895 - 1901) để chuẩn bị cho kỳ thi Hội năm Mậu Tuất 1898. Để có tiền giúp chồng theo đuổi khoa cử và nuôi con, bà Hoàng Thị Loan đã mang từ Nam Đàn vào chiếc xa quay, bộ khung cửi dệt vải. 

Tại đây, bà đã sinh hạ thêm người con thứ tư nhưng chẳng bao lâu sau bà qua đời vào ngày 19 tháng chạp, áp Tết Canh Tý (7-2-1901) lúc mới 33 tuổi do bị bệnh nặng, trong khi ông Nguyễn Sinh Sắc đi coi thi ở Thanh Hóa rồi về làng Kim Liên xây mộ cho song thân. Ông Sắc đi chuyến ấy mang theo cả Nguyễn Sinh Khiêm nên ở nhà lúc đó chỉ có Nguyễn Sinh Cung mới 11 tuổi cùng đứa em nhỏ mới sinh. 

Sau đám tang vợ một thời gian ngắn, ông Sắc đưa các con về quê. Để chuẩn bị cho các con đi thi sau này, ông Sắc đã đổi tên Nguyễn Sinh Khiêm thành Nguyễn Tất Đạt, còn Nguyễn Sinh Cung thành Nguyễn Tất Thành vì chữ “Khiêm” là chữ húy của vua Tự Đức. Năm 1905, ông Nguyễn Sinh Sắc lại đưa 3 chị em vào Huế. Vào Huế lần này, hai anh em Tất Đạt, Tất Thành được học ở Trường Tiểu học Pháp -Việt Đông Ba, năm 1908 chuyển lên học Trường Quốc Học - Huế. Sau vụ tham gia biểu tình chống thuế năm 1908, đến năm 1909, Nguyễn Tất Thành bí mật rời Huế vào Nam. 

Qua lời kể của ông Cả Khiêm và bà Thanh về ngôi nhà Thành Nội, trong bài Đi từ giữa một mùa sen, nhà thơ Thanh Tịnh có thơ tả rất chi tiết: “Ăn nhờ ở đậu lân la / Mới thuê được một căn nhà hướng Nam / Xế hiên một gốc mai vàng / Trước sân bông bụt một hàng rào thưa / Bên này nhà chú thợ cưa / Bên kia nhà một viên thừa bộ binh / Dãy nhà gian ngói bếp tranh / Chênh chênh nhìn phía cổng thành Đông Ba...”. 

Để di tích thêm sống động 

Trải trăm năm biến động, đến nay ngôi nhà 112 Mai Thúc Loan, Huế vẫn còn trên nền đất cũ. Năm 1901, sau khi bà Hoàng Thị Loan mất, cụ Nguyễn Sinh Sắc không thuê ngôi nhà đó nữa. Sau đó, căn nhà được một gia đình khác thuê lại. Một trong những người con gái của gia đình đó là bà Nguyễn Thị Thịnh, 84 tuổi, hiện cư trú ở Nha Trang. 5 năm trước, bà được Bảo tàng Hồ Chí Minh mời ra Huế để tham gia đóng góp ý kiến về việc phục chế lại ngôi nhà cùng toàn bộ nội thất từ chiếc giá sách của ông đồ Sắc đến chiếc xa quay, khung cửa, cánh võng, nón lá, yếm, khăn, đôi quang gánh của bà Hoàng Thị Loan. Đồng thời, các cơ quan hữu quan tổ chức thu thập tranh ảnh và những câu chuyện có liên quan đến thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế để di tích thêm sống động. 

SGGP online

ĐIỀU CHƯA BIẾT VỀ NGƯỜI QUAY NHỮNG THƯỚC PHIM CUỐI ĐỜI BÁC 

“Tôi giơ máy quay lên mà nước mắt nhạt nhoà. Bên cạnh, các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp... đưa tay gạt nước mắt. Bác nằm đó, bình thản lạ kỳ…” Hơn 30 năm sau ngày bấm những thước phim cuối đời của Bác, ông Nguyễn Thanh Xuân vẫn chưa hết rưng rưng... 

Nhà ông Xuân nằm sát dưới chân núi Chung- xã Kim Liên huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Thời niên thiếu của ông cũng là lúc Nguyễn Tất Thành (tên thời trẻ của Hồ Chủ tịch) đã xa quê bôn ba khắp năm châu tìm đường cứu nước. 17 tuổi, ông Xuân nhập ngũ vào Sư đoàn công pháo 351, tham gia nhiều chiến dịch lừng lẫy như Tây Bắc, Thượng Lào, Điện Biên Phủ... Vì vóc dáng nhỏ bé nhất đơn vị ông Xuân được chuyển sang làm công binh chuyên đào công sự. 

Từ lính công binh đến phóng viên chiến trường 

Tình cờ trong lần hành quân về tiếp quản thủ đô, đơn vị của ông Xuân đóng tại Bưởi được Tổng cục chính trị mời tham gia đóng bộ phim “Dưới cờ quyết thắng” của Điện ảnh quân đội. Ông Xuân cũng không thể ngờ, đó chính là một bước ngoặt lớn lao trong cuộc đời ông. Sau khi tham gia bộ phim này, ông chính thức được điều về Điện ảnh Quân đội phụ trách làm khói lửa cho các cảnh quay. Niềm đam mê điện ảnh ngấm dần, thôi thúc ông mò mẫm học cách cầm máy mỗi khi có dịp. Chiến tranh phá hoại nổ ra, bất ngờ ông được đơn vị giao máy quay và trở thành phóng viên quay chính. Những thao tác bấm máy “học lỏm” trong thời gian trước đây đã thực sự phát huy tác dụng. 

Bộ phim đầu tiên ông Xuân trực tiếp cầm máy nói về tiểu đoàn Anh hùng Nguyễn Viết Xuân: “Nhằm thẳng quân thù, bắn !”. Sau bộ phim này ông cùng 6 anh em trong đơn vị được cử đi học tại trường Đại học điện ảnh. Nhưng sự học của ông lại tiếp tục bị ngắt quãng khi chuẩn bị thi tốt nghiệp thì được lệnh đi thành cổ Quảng Trị, trở thành phóng viên chiến trường chủ chốt của Xưởng phim quân đội tham gia vào các mũi tiến công của quân ta ở mặt trận này. Năm 1975, trong khi cùng đoàn đi làm bộ phim “Đại thắng mùa xuân năm 75”, ông bất ngờ tách đoàn, một mình vào Đà Lạt để thực hiện bộ phim “Đà Lạt vào xuân”- bộ phim màu đầu tiên của Điện ảnh quân đội. 

Và 5000 thước phim vô giá 

Hơn 30 năm cầm máy, thực hiện rất nhiều bộ phim nhưng ông Xuân không thể nào quên những giây phút được gặp và làm phim về Bác Hồ. Năm 1969, không ít lần ông được cử đi quay phim về Bác Hồ như lần Bác về thăm trận địa pháo binh, thăm bộ đội Hải quân... Hình ảnh Bác Hồ đội mũ sắt cầm thuốc lá chia cho các chiến sỹ pháo binh hẳn đã được sử dụng trong rất nhiều bộ phim tài liệu về cuộc đời Hồ Chủ Tịch. 

Nhưng chuyến “công cán” khiến ông nhớ nhất và không thể ngờ lại là thực hiện những thước phim cuối cùng về Bác. Ngày 29/8/1969, ông Xuân được thông báo chuẩn bị đồ đạc để lên đường nhận nhiệm vụ đặc biệt. Cùng đi còn có các ông Trần Anh Trà, Nguyễn Hữu Vân và anh lái xe Hoàng Hè. Khoảng 3h sáng ngày 29/8, tất cả được đưa vào Phủ Chủ Tịch nhưng vẫn không hay biết gì về công việc được giao. Sáng hôm sau, khi ông Vũ Kỳ đến thông báo về tình hình sức khoẻ của Bác, cả đoàn bắt đầu mơ hồ hiểu rằng công việc gì đang đón đợi họ. Nhưng hết ngày hôm đó, cả đoàn vẫn chỉ có nhiệm vụ: chờ đợi. Sáng 1/9, ông Vũ Kỳ đến thông báo: Sức khoẻ của Bác đã có khá hơn, Bác đang cố giữ sức khỏe để sáng mai ra mắt đồng bào trong ngày lễ kỷ niệm độc lập. Ông Xuân còn nhớ như in chi tiết khi đồng chí Võ Nguyên Giáp xúc một thìa cơm từ trong liễn vào bát của Bác, Bác đã nói: “Bác ăn được 2-3 thìa chứ đâu phải một thìa”. Mọi người đứng xung quanh rất phấn khởi và tin rằng ngày mai Bác sẽ ra dự ngày Quốc khánh với nhân dân. Trong lòng ông Xuân cầu mong rằng: “Đây chưa phải là lần cuối ông và những đồng nghiệp được làm phim tư liệu về Bác”. 

Thế nhưng buổi chiều ngày 1/9, ông Xuân và ông Trần Anh Trà bất ngờ được lệnh vào chỗ Bác. Gương mặt đầy lo âu của các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Trần Quốc Hoàn vây quanh giường bệnh đã cho thấy: sức khỏe của Bác đã rất nguy kịch. 

“Đầu óc tôi căng ra, cố ngăn những giọt nước mắt. Phía bên kia, Trần Anh Trà lén đưa khăn mùi xoa lên lau mắt. Tôi nhớ ra, phải ghi lại những giờ phút này. Một toàn cảnh từ xa, các đồng chí trong Bộ Chính trị, các bác sỹ, chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc đang vừa thương cảm, lặng lẽ, vừa hối hả, vừa khẩn trương bên Bác...”, ông Xuân hồi tưởng lại. 

Suốt cả buổi chiều, tối và đêm 1/9, ông Xuân cùng các đồng nghiệp túc trực bên Bác. 8 giờ sáng 2/9, quảng trường Ba Đình đã đông nghịt người, đại biểu nhân dân các tỉnh- thành trong nước và bạn bè quốc tế đã tề tựu đông đủ, chờ đợi Bác. Đúng thời điểm ấy, Bộ Chính trị họp phiên bất thường. Ông Xuân hiểu rằng điều mọi người không muốn đã và đang đến. Nguyễn Thanh Xuân đưa máy lên, tự nhủ những tư liệu này thật quan trọng, mỗi thước phim sẽ thể hiện trách nhiệm cao nhất với lịch sử, dân tộc. Bác trút hơi thở cuối cùng khi cuộc họp của Bộ Chính trị vẫn chưa kết thúc. Cả hội nghị lặng đi trong giây lát rồi tất cả cùng lao về một hướng- nơi Bác đang nằm... Những tiếng khóc nức nở, những bàn tay của học trò, đồng chí đặt lên ngực Bác đầy tôn kính. Ông Xuân giơ máy quay lên, nước mắt giàn giụa, khung hình nhòe nước mắt 

Ròng rã suốt 5 ngày đêm, ông Xuân cùng đồng đội không bỏ sót một cảnh quay nào. Hơn 5.000 mét phim vô giá nhất trong sự nghiệp cầm máy của ông đã được thực hiện trong quãng thời gian ngắn ngủi đó. Chiếc máy quay Convát mang số hiệu 67083 của Nga ông dùng để thực hiện những cảnh quay này hiện đang được trưng bày trong Viện Bảo tàng quân đội. 

20 năm sau, những thước phim quý giá ấy của ông được công bố đầy đủ trong bộ phim “Những giây phút cuối cùng của Bác Hồ”. Chính dịp này ngày tháng Bác ra đi được công bố lại đúng với sự thật lịch sử - cái sự thật mà hai thập kỷ qua ông Xuân đã nguyện “sống để dạ, chết mang theo”.../. 

Theo VOV 


Comments